The smoke went into the air.
Khói đi vào trong không khí.
The smoke went into the air.
Khói đi vào trong không khí.
They both carried fire so they could see in the dark.
Họ đều mang theo lửa để họ có thể thấy trong tối.
The girl ran after him.
Cô gái chạy theo sau hắn.
He ran into the woods.
Hắn chạy vào trong khu rừng.
It was her brother!
Đó là người anh em của cô!
When she saw that person, he was very familiar.
Khi cô thấy người đó, hắn rất quen.
She knew there was only a single person with a black hand
Cô biết chỉ có duy nhất một người với bàn tay đen.
The girl returned to the party.
Cô gái trở lại buổi tiệc,
When he released it, his hand was black.
Khi hắn thả nó ra, tay hắn bị đen.
The lights went off, and someone grabbed her hair.
Đèn bị tắt đi, và ai đó vồ lấy tóc cô.
She went to the bathroom again, and it was the same pattern.
Cô vào phòng tắm một lần nữa, và chuyện y như (mẫu, kiểu) vừa rồi.
The purpose of this was to catch the person
Mục đích của việc này là để bắt người đó.
She put black dirt in her hair.
Cô để đất đen trong tóc m
She wanted to encourage the person to grab it again.
Cô muốn khuyến khích người đó vồ lấy nó lần nữa.
She even balanced beautiful jewels in it.
Cô thậm chí cân bằng nữ trang đẹp trong tóc.
This time it was even more beautiful.
Lần này tóc cô thậm chí đẹp hơn nữa.
She fixed her hair again.
Cô sửa tóc của mình lần nữa.
Then she had an idea.
Sau đó cô có một ý tưởng.
She wanted to know who did this to her.
Cô muốn biết ai làm điều này với cô.
She ran out of the bathroom.
Cô chạy ra khỏi phòng tắm.
Someone grabbed her hair and tore her clothes.
Một người nào đó vồ lấy tóc của cô và xé quần áo cô.
Suddenly, the lights were turned off!
Đột nhiên, đèn bị tắt.
Later, she walked into the bathroom.
Sau đó, cô đi vào phòng tắm.
The girl was having fun.
Cô đang vui.
They attended the party together.
Họ dự buổi tiệc cùng nhau.
She looked perfect
Cô trông hoàn hảo.
But the girl worked hard, and soon she had success.
Nhưng cô gái chịu khó làm, và không lâu sau cô đã thành công.
This required a lot of time.
Việc này yêu cầu nhiều thời gian.
She arranged her hair and put on nice clothes.
Cô sắp xếp tóc của mình và mặc bộ đồ đẹp.
First, it was necessary for her to prepare.
Đầu tiên, cô rất cần phải chuẩn bị.
The girl accepted.
Cô đồng ý.
“We should go to a party,”
"Chúng ta nên đi tới bữa tiệc."
One day he proposed something.
Một ngày nọ, cậu đề xuất một việc gì đó.
In contrast, her brother was a mean little boy.
Trái lại, người anh em của cô là một cậu bé đáng ghét.
She was very nice.
Cô rất tốt.
They tell a story about a beautiful girl.
Họ kể một câu chuyền về một cô gái xinh đẹp.
The Inuit people of Alaska have a theory.
Người Inuit ở Alaska có một học thuyết.
Do you ever wonder where the moon and the sun came from?
Có bao giờ bạn tự hỏi mặt trăng và mặt trời đến từ nơi nào?
How the Sun and the Moon Were Made
Cách Mặt Trời và Mặt Trăng được tạo ra
You see, being popular isn’t something positive when it’s for the wrong
Ngươi thấy đấy, việc nổi tiếng không phải là thứ gì tích cực khi nó dành cho lý do không đúng.
You aren’t able to bite them anymore!”
Ngươi không thể cắn họ nữa!
t tells them where you are so they can avoid you.
Nó nói họ biết nơi ngươi ở để họ có thể tránh ngươi.
Of course they like your bell.
Dĩ nhiên họ thích chuông của ngươi.
The other dogs said, “You have the wrong idea of what makes you popular.
Những con chó kia nói, "Ngươi nghĩ sai về cái làm ngươi nổi tiếng rồi.
No, they look at me because they like the bell.
Không, mọi người nhìn tôi vì họ thích cái chuông.
John’s dog shook his head.
Chó của John lắc cái đầu của nó.
They said the bell made people avoid him.
Chúng nói cái chuông khiến người ta tránh nó.
But they laughed at his bell.
Nhưng chúng cười nhạo chuông của nó.
Heexpected them to want a bell like his.
Nó tin là chúng sẽ muốn một cái chuông như cái của nó.
One day, John’s dog strolled through the village and met some other dogs.
Một ngày kia, chó của John đi dạo qua làng và gặp một số những con chó khác.
He liked the song the bell played when he walked.
Nó thích khúc nhạc mà cái chuông dạo khi nó bước đi.
This made the dog very content.
Điều này khiến nó rất hài lòng.
People looked at him when they heard his bell.
Người ta nhìn nó khi họ nghe chuông.
The dog liked the bell, too.
Con chó cũng thích cái chuông.
It would not be able to bite anyone anymore.
Nó sẽ không thể cắn bất cứ ai nữa.
Now, people could stay away from the dog.
Bây giờ, mọi người có thể tránh xa khỏi con chó.
John thought this was a great idea.
John cho rằng đây là một ý tưởng tuyệt vời.
This way, we would hear your dog coming down the street.”
Bằng cách này, chúng tôi có thể nghe con chó đi xuống đường."
Why don’t you put a bell around the dog’s neck?
Tại sao anh không đeo một cái chuông quanh cổ nó?
We want your dog to stop this habit.
Chúng tôi muốn con chó của anh ngưng thói quen này.
During their important meeting, his friend said, “The people in the village asked me to represent them.
Trong suốt cuộc gặp quan trọng, người bạn nói, "Người trong làng yêu cầu tôi đại diện họ.
John’s friend came to talk to him about the issue.
Một người bạn của John đến nói chuyện với anh về vấn đề này.
“How will I stop my dog’s bad habit?” John asked himself.
"Bằng cách nào tôi có thể ngăn tật xấu của con chó?" John tự hỏi.
John didn’t want to punish the dog.
John không muốn phạt con chó.
That also didn’t work.
Cách đó cũng không được.
He tried to be patient and teach the dog to be calm.
Anh cố gắng kiên nhẫn và dạy nó bình tĩnh.
John tried to instruct the dog to behave, but it never worked.
John cố chỉ dẫn con chó cư xử cho đúng, nhưng không bao giờ làm được.
None of the people wanted to go to John’s house.
Không ai trong làng muốn đến nhà của John.
The news about John’s dog spread through the village.
Tin tức về con chó của John lan rộng qua ngôi làng.
His friends in the village always expected the dog to bite them.
Bạn của anh trong làng luôn luôn tin rằng con chó sẽ cắn họ.
It was not an appropriate way for a dog to behave.
Đó không phải là cách đúng để một con chó cư xử.
John had great concern about this.
John rất lo ngại về điều này.
He bit people frequently.
Nó hay cắn mọi người.
John’s dog was a bad dog
Chó của John là một con chó hư.
The Dog’s Bell
Chiếc chuông của chó
Then he took his model and said goodbye to h
Rồi anh nhận lấy mô hình của mình và chào tạm biệt người bạn mới của anh.
“Thanks,” Lee said.“My model will be awesome!”
"Cám ơn," Lee nói. "Mô hình của tôi sẽ tuyệt vời!"
Soon, they were on Earth.
Không lâu sau, họ ở Trái Đất.
n the way back, he helped Lee make a model of the planet Mars.
Trên đường về, ông giúp Lee làm mô hình của Hỏa tinh.
“It’s time to go home,” the alien finally said.
"Tới lúc về nhà," cuối cùng người ngoài hành tinh nói.
Instead of a bad grade, his group would have the best project ever!
Thay vì một điểm tệ, nhóm của anh sẽ có dự án tốt từng có!
Lee was very excited
Lee vô cùng phấn khích.
Then they viewed Mars.
Sau đó họ xem sao Hỏa.
They passed the moon.
Họ đi ngang qua mặt trăng.
Soon, they were going through the clouds.
Không lâu sau, họ đang bay xuyên qua các đám mây.
Then, I can help you make a model of my planet.”
Khi đó, ta có thể giúp ngươi làm mô hình của hành tinh của ta.
“First, we’ll fly through space to view the universe.
"Đầu tiên, chúng ta sẽ bay xuyên qua không gia để xem vũ trụ."
The alien agreed to help Lee solve his problem.
Người ngoài hành tinh đồng ý giúp Lee giải quyết vấn đề của anh.
Lee told the friendly alien all about his project.
Lee kể cho người ngoài hành tinh thân thiện tất cả về dự án của mình.
“Did you ask for help?”
"Ngươi yêu cầu giúp đỡ phải không?"
“Hello, kid,” said an alien.
"Chào, nhóc," người ngoài hành tinh nói.
Lee was pulled from his chair, through the roof, and right into a strange ship!
Lee bị kéo khỏi ghế của mình, xuyên qua mái nhà, và ngay vào trong một con tàu lạ!
Suddenly, there was a bright light.
Đột nhiên, có một ánh sáng chói.
He put his head down on the table and said, “I wish I could see a planet, instead of having to read about it!
Anh đặt đầu xuống bàn và nói, "Tôi ước tôi có thể thấy một hành tinh, thay vì phải đọc về nó!"
“We’re going to fail because of me!” Lee said.
"Chúng ta sẽ thất bại vì tôi!" Lee nói.
Lee tried to read several books, but he couldn’t comprehend any of the charts.
Lee cố đọc vài cuốn sách, nhưng anh không thể lĩnh hội được bất cứ cái biểu đồ nào.
Making a model of a planet was really hard.
Việc làm ra một mô hình một hành tinh thì không quá khó.
“Well, I suppose I need to start my model,” Lee thought.
"Tôi cho là tôi cần phải bắt đầu cái mô hình của mình," Lee nghĩ.
Now, Lee needed to do his part of the project.
Giờ thì Lee cần phải làm phần mình của dự án.
Claire drew a nice map of the stars.
Claire vẽ một bản đồ những ngôi sao.
He wrote a lot of very good sentences and described things with great adjectives.
Anh viết rất nhiều những câu hay và tả mọi thứ bằng những tính từ tuyệt vời.
Jack did the report.
Jack làm xong báo cáo.
They were also very smart, and Lee didn’t want them to get a bad grade.
Họ cũng rất thông minh, và Lee không muốn họ nhận một con điểm tệ.
They had worked hard.
Họ đã làm việc rất chăm.
ack and Claire were in his group.
Jack và Claire ở trong nhóm của anh.
They had to turn it in soon, but he hadn’t even started his part!
Họ phải nộp nó sớm, nhưng anh thậm chí chưa bắt đầu phần của mình!
Lee sat among the books at the library and thought about his group project.
Lee ngồi giữa những cuốn sách ở thư viện và nghĩ về dự án nhóm của anh.
The Report
Bản báo cáo
I hope you like it!
Ta mong con thích nó!
“I made this foryour birthday.
Ta làm nó cho ngày sinh nhật của con.
I wanted to give it to you then, but you it now.
Ta muốn cho nó cho con khi đó, nhưng con có thể có nó bây giờ.
The laugh didn’t sound so evil anymore.
Tiếng cười không còn nghe quá tà ác nữa.
The doll laughed.
Con búp bê cười thành tiếng.
He had a pretty doll in his hands.
Ông cầm con búp bê xinh đẹp trong đôi bàn tay.
“Monster?” he asked. “You mean this?”
"Quái vật?" ông nói. "Con muốn nói thứ này?"
“Your monster tried to kill us,” Mia said.
"Con quái vật của cha cố giết bọn con," Mia nói.
“You must have learned my secret.”
"Mấy đứa chắc đã biết được bí mật của ta."
“Oh, no,” he said.
"Ồ không," ông nói.
Mia’s father ran into the room and turned on the lights.
Cha của Mia chạy vào trong phòng và bật các bóng đèn.
She shouted for help.
Cô la to tìm sự giúp đỡ.
Mia had to do something.
Mia phải làm một cái gì đó.
What if a monster was going to kill them?
Chuyện gì xảy ra nếu một con quái vật giết chúng?
t was even worse than the one Mia heard the night before.
Nó chậm chí tệ hơn cái tiếng mà Mia nghe tối hôm trước.
Suddenly, they heard an evil laugh.
Đột nhiên, họ nghe một tiếng cười tà ác.
What terrible thing was her father creating?
Cha cô đang tạo ra cái thứ kinh khủng gì?
Mia smelled strange chemicals.
Mia ngửi thấy những hóa chất lạ.
The girls walked down the stairs carefully.
Các cô gái đi xuống các bậc thang một cách cẩn thận.
The laboratory was dark.
Phòng thí nghiệm rất tối.
“He didn’t lock the door!” Liz said. “Let’s go.”
"Ông ấy không khóa cửa!" Liz nói. "Đi thôi."
They waited until Mia’s father left the laboratory to eat dinner.
Bọn họ chờ tới khi cha của Mia rời phòng thí nghiệm để ăn tối.
As always, the door was locked.
Như thường lệ, cánh cửa bị khóa.
Mia felt nervous about going into her father’s laboratory, but she agreed.
Mia cảm thấy lo lắng về việc đi vào trong phòng thí nghiệm của cha cô, nhưng cô đồng ý.
“It will be a fun adventure!”
"Đó sẽ là một chuyến phiêu lưu vui!"
“Why don’t we see what is in there?” Liz asked.
"Tại sao chúng ta lại không xem cái gì ở trong đó chứ?" Liz hỏi.
“Oh, it was terrible,” she said.
"Ồ, thật là khủng khiếp," cô ấy nói.
When Liz arrived, Mia told her about the night before.
Khi Liz đến nơi, Mia nói với cô ấy về đêm trước.
The next night, her friend Liz came to her house.
Đêm hôm sau, Liz bạn của cô đến nhà cô.
The noise scared her, so she walked quickly back to her room.
Tiếng ồn làm cô hoảng sợ, thế nên cô nhanh chóng quay lại phòng của mình.
It sounded like an evil laugh.
Nó nghe như là một tiếng cười tà ác.
Suddenly, she heard a loud noise.
Đột nhiên, cô nghe một tiếng ồn lớn.
She stopped and thought, “I wonder what crazy experiment he is doing now.”
Cô ngưng và nghĩ, "Ta tự hỏi (muốn biết) cái thí nghiệm điên rồ gì mà ông ấy đang làm lúc này."
One night, Mia approached the door to the laboratory.
Một đêm, Mia tiếp cận (tiến lại gần) cánh cửa dẫn tới phòng thí nghiệm.
He never told Mia what these projects were
Ông chưa bao giờ nói với Mia những dự án này là gì.
She knew that he used it to do projects for work
Cô biết rằng ông dùng nó để làm dự án công việc.
Her dad always closed and locked the door when he went in.
Cha cô luôn đóng và khóa cửa khi ông đi vào.
Mia’s father had a laboratory, but she had no idea what was in it.
Cha của Mia có một phòng thí nghiệm, nhưng cô không biết cái gì ở trong nó.
The Laboratory
Phòng thí nghiệm
He was the best choice.
Anh là sự lựa chọn tốt nhất.
They agreed to have Jason as their king.
Họ đồng ý chọn Jason là vua của mình.
It had kept them from saying goodbye to their father.
Nó đã giữ họ khỏi việc nói từ biệt cha mình.
They realized that their fighting was wrong.
Họ nhận ra rằng việc chiến đấu của mình là sai.
They were surprised.
Họ ngạc nhiên.
Theseus and Pelias heard that their youngest brother was king.
Theseus và Pelias nghe rằng đứa em út làm vua.
Then the king died.
Sau đó vua mất.
They can’t.”
Chúng thì không thể."
You can bring peace.
Ngươi có thể mang đến hòa bình.
It’s the difference between you and your brothers.
Đó là sự khác biệt giữa ngươi và các anh trai.
Your kindness has always made you special.
Lòng tốt của ngươi luôn luôn khiến ngươi đặc biệt.
Therefore, I’m making you king.
Vì thế, ta sẽ cho người làm vua.
I can’t allow either of them to be king.
Ta không thể cho phép một trong hai đứa nó trở thành vua.
There’ll be war.
Sẽ có chiến tranh.
The people won’t know what to do.
Dân chúng sẽ không biết phải làm gì.
They’ll divide it between them.
Chúng sẽ chia vương quốc với nhau.
“I must protect my kingdom from all harm.
"Ta phải bảo vệ vương quốc khỏi mọi nguy hại.
“Your brothers fight too much,” the king told him
"Các anh trai ngươi đánh nhau quá nhiều," vua nói với anh.
The king laid his hand flat on Jason’s arm.
Vua cha đặt bàn tay mình lên sát trên cánh tay của Jason.
He sensed his father’s sadness.
Anh linh cảm thấy nỗi buồn của cha mình.
The youngest son, Jason, stood beside him.
Người con trai út, Jason, đứng kế ông.
King Minos could hear his sons fighting.
Vua Minos có thể nghe các con mình đánh nhau.
Pelias agreed.
Pelias đồng ý.
“Fight me now. The winner gets the kingdom!”
"Chiến đấu với ta ngay bây giờ. Người thắng cuộc lấy vương quốc!"
“Beating me will be a challenge,” Theseus said.
"Đánh bại ta sẽ là một thử thách," Theseus nói.
Then Pelias did the same.
Khi đó Pelias cũng làm như thế.
Theseus made a sudden move to take out his sword.
Theseus đột ngột rút kiếm của anh ra.
“Father will give it to me—or I’ll use force to take it!”
"Cha sẽ đưa nó cho ta--hoặc ta sẽ dùng lực để lấy nó!"
“The kingdom is mine!” Pelias claimed.
"Vương quốc là của ta!" Pelias tuyên bố.
“He won’t choose you!”
"Ông sẽ không chọn ngươi!"
“You?” Theseus yelled
"Ngươi?" Theseus quát lớn.
He’ll make me king.”
Ông sẽ để ta làm vua,"
“Father knows I’m famous for my sword skills.
"Cha biết ta nổi tiếng với các kỹ năng dùng kiếm của mình."
Pelias became angry.
Pelias trở nên giận dữ.
You can lead the army.”
Ngươi có thể dẫn đầu quân đội."
“When I’m king,” Theseus told Pelias, “I’ll let you contribute to the defense of our country.
"Khi ta là vua," Theseus nói với Pelias, "Ta sẽ để ngươi góp phần vào việc phòng vệ của quốc gia chúng ta.
He thought the king would choose him.
Anh nghĩ ông vua sẽ chọn anh ta.
He was an expert with weapons.
Anh là chuyên gia với các món vũ khí.
Pelias, the second son, thought differently.
Pelias, người còn thứ hai, nghĩ khác.
He thought his father would make him king.
Anh nghĩ cha mình sẽ cho anh làm vua.
heseus was the oldest and strongest
Theseus là người lớn nhất và mạnh nhất.
Two of the princes stood waiting outside the king’s room.
Hai trong số các hoàng tử đứng đợi bên ngoài phòng của nhà vua.
He had to announce who would become king.
Ông phải thông báo ai sẽ trở thành vua.
He loved them all.
Ông yêu tất cả chúng.
He had three sons.
Ông có ba người con trai.
His condition was getting worse.
Tình trạng sức khỏe của ông đang trở nên tệ hơn.
King Minos was very sick.
Vua Minos bệnh rất nặng.
The Best Prince
Hoàng tử giỏi nhất
A ghost can save
Một hồn ma có thể cứu mạng của bạn!
Sometimes, meeting a ghost has advantages.
Đôi khi, việc gặp một hồn ma có những lợi thế,
She also used her power to lead them home.
Bà cũng đã dùng sức mạnh của mình để dẫn chúng tới nhà.
She had saved them from the rising water.
Bà cứu chúng khỏi nước đang dâng.
The ghost had helped the children survive!
Hồn ma đã giups những đứa trẻ sống sót!