lbumpeumroherasbank
Tôi va vào cô ấy TRONG KHI tôi ra khỏi ngân hàng.
lbumpeumroherasbank
Tôi va vào cô ấy TRONG KHI tôi ra khỏi ngân hàng.
l'IIcallyouoncelarnve
Tôi sẽ gọi cho bạn MỘT KHI / NGAY KHI tôi đến nơi.
NIm0one96whilethemoylewason
Không ai rời rạp chiếu phim TRONG KHI bộ phim đang trình chiếu.
l'l/ebeenverybusysincelsrarleumynewjob
Tôi đã và đang rất bận KỂ TỪ KHI tôi bắt đầu công việc mới của mình.
l'IIWaltwltllyouunu'lthebuscomes
Tôi sẽ chờ với bạn CHO ĐẾN KHI be buýt tới.
Brushyourteethbeforeyougotobed’
Đánh răng TRƯỚC KHI bạn đi ngủ.
Wecan'rplaylaudevelyanehasgonetoarmmuslcbed
Chúng ta không thể chơi nhạc lớn SAU KHI mọi người đã đi ngủ.
ShewasInabadcarwhenshewasouhaccldehry9
Cô gặp tai nạn xe hơi KHI cô còn trẻ.
HiketohavemeradioonWhilelstud
Tôi thích để cái đài phát trong khi tôi học.
Wedon'tuseduringinsteadofwhileDiningisapieposition,notaconjunction,anditmusthefollowedbyanounoiapionoun:
Chúng ta không dùng during thay cho while. During là một giới từ, không phải là liên từ, và giới từ phải được theo sau bởi danh từ hoặc đại từ
Theyweretalkingwhiletheteacherwasexplainingmeacm/Ily
Họ đang nói chuyện trong khi giáo viên giải thích hoạt động.
Canyouwaitinmecarwhilelrirnintotheshop
Bạn có thể chờ trong xe trong khi tôi chạy vào trong cửa hàng được không?
Weusewhiletoshowthatactionspreventshappenatthesametimeinthepast,plesenlmfulule
Chúng ta dùng while để cho thấy rằng những hành động hoặc sự kiện xảy ra cùng một lúc ở QUÁ KHỨ, HIỆN TẠI, hoặc TƯƠNG LAI.
UntilhernennonedhrsnamewasDaugilthoughthewascalledDamienl
Cho đến khi anh ta đề cập tên mình là Doug, tôi tưởng anh ta được gọi là Damien!
I'mgoingtowaituntiltneJanuarysalesstarttobuyanewjacket
Tôi dự định chờ cho đến khi đợt hạ giá tháng Một bắt đầu để mua một cái áo khoát mới.
UntilasatimeConjuncliunmeansuptoatimeinthepaslalfulule.intheeaseofuntil,themainelauseusuallyeomestiist
Until có nghĩa là cho tới một thời điểm trong quá khứ hoặc tương lai. Trong trường hợp của Until, mệnh đề chính thường đứng trước mệnh đề phụ.
Armshecomesheleishe'llpickyouup
Sau khi cô ấy đến đây, cô ấy sẽ đón bạn.
She'IIpickyouuphetoreshecomeshere
Cô ấy sẽ đón bạn trước khi cô ấy đến đây.
WeusebeforeandalrerlcIalkabuullhecldelcfeventsInIhepastmfunne.WilhDeloreandalter,ellhellhemalnClausecllhesubcldlnaleClauseCanComefils‘:
Chúng ta sử dụng BEFORE và AFTER để nói về trật tự của sự việc trong quá khứ hoặc tương lai. Đối với before hoặc after, hoặc mệnh đề chính đứng trước mệnh đề phụ hoặc ngược lại.
Assoonaswehearanynewswe'llcallyou
Ngay khi chúng tôi hay bất cứ tin gì, chugns tôi sẽ gọi bạn.
Theyalwaysclosetheircultalnsancetheygethomeintheevening
Họ luôn luôn đóng rèm khi họ về nhà vào buổi tối.
WhenwewereinGreecewewenttoasmanyislandsaspossible
Khi chúng tôi ở Greece, chúng tôi đã đi tới nhiều đảo nhất có thể.
Wecanusewhen.once,asandassoonastotalkaboutaspeeitiepointintimewhensomethinghappenedoiwillhappen:
Chúng ta dùng when, once, as, và as soon as để nói về một thời điểm khi một thứ gì đó ĐÃ hoặc SẼ xảy ra.
lwlllcallVauassaanaslast[atheoffic
Tôi sẽ gọi cho bạn ngay khi tôi đến văn phòng.
WhenpeoplewalkIntothemomrheywlIIfeelsomethlngspecla
Khi người ta đi vào phòng, họ sẽ cảm thấy một cái gì đó đặc biệt.
Wedon'lusewlIIaflelconjuncuonslefemnglofululelime
Chúng ta không dùng will sau những liên từ chỉ thời gian ở tương lai
Warning:
Để ý:
Manyonneselimeconjuncllonscanbefollowedbyringa!eafulmslnsleauofsuhjecl+velb
Nhiều trong số những liên từ chỉ thời gian này có thể được theo sau bởi V-ing hoặc V-ed thay vì S + V
Wealwahaveany:assoonasweget[amebeach
Chúng tôi luôn ăn kem ngay khi chúng tôi đến bãi biển.
lime
thời gian
conjunction
liên từ
acllan/evenl
hành động, sự kiện
aresubardlnallngconjuncllonswhichcanbeusedluconneclanacllunoranevenlloapaintinlime
đây là những liên từ dùng để nối một hành động hoặc một sự kiện với một thời điểm.
CONJUHCtIOnSItlme
Liên từ: thời gian
He raised his hands high and yelled, “Pay me by the end of the week.
Ông giơ tay lên cao và quát, "Trả ta tiền vào cuối tuần này.
If you don’t, I will increase the money you have to pay
Nếu ngươi không trả, ta sẽ tăng lượng tiền bạn phải trả.
The lord was angry.
Chúa đất rất giận dữ.
So Arthur and Maria had to bring in their crops without an animal’s help.
Thế nên Arthur và Maria phải mang vụ thu hoạch vào mà không cần sự giúp sức của thú vật.
On a fall day, the lord demanded his money.
Vào một ngày mùa thu, chủ đất đòi tiền của ổng.
Only the cats stayed.
Chỉ có những con mèo ở lại.
One structure caught fire, and most of the animals ran away.
Một tòa nhà bắt lửa, và hầu hết các con động vật chạy đi hết.
One summer, their farm burned.
Một mùa hè nọ, trang trại của họ bốc cháy.
They owed the town lord money for their land.
Họ nợ chủ thị trấn tiền vì đất của họ.
But they were poor.
Nhưng họ rất nghèo.
Arthur was a responsible farmer, and Maria was a nice lady.
Arthur là một nông dân có trách nhiệm, và Maria là một quý bà tốt bụng.
The Farmer and the Cats
Người nông dân và những con mèo.
He also helped them to realize that sometimes it takes people a little time to understand great thing
Ông cũng giúp họ nhận ra rằng đôi khi người ta tốn một chút thời gian để hiểu ra những thứ tuyệt vời.
Frenhofer’s painting reminded everyone that just because something was new didn’t mean that it was bad.
Bức họa của ông nhắc nhở mọi người rằng chỉ vì một thứ gì đó mới, không có nghĩa là nó tệ.
They loved his strange colors.
Họ yêu thích những màu sắc ký lạ của ông.
They loved his strange symbols.
Họ yêu những ký hiệu kỳ lạ của ông.
They said it was his best work.
Họ nói rằng đó là tác phẩm tuyệt vời nhất của ông.
People wrote articles about it in magazines.
Người ta viết các bài báo về nó trong các cuốn tạp chí.
But after some time, many people began to like his painting.
Nhưng sau đó một thời gian, nhiều người bắt đầu thích tranh của ông.
They didn’t understand its beauty.
Họ không thể hiểu được vẻ đẹp của nó.
“Why did you paint this strange picture?” someone asked.
"Tại sao ông lại vẽ bức tranh kỳ lạ này?" một người hỏi.
They thought it was terrible.
Họ cho rằng nó thật khủng khiếp.
He used symbols, and they didn’t understand them.
Ông dùng các ký hiệu, và họ không hiểu được chúng.
It looked bad to the other artists.
Nó trông tệ đối với các họa sĩ khác.
It was full of strange shapes.
Nó đầy những hình thù kỳ lạ.
There was no space for a normal picture.
Không có chỗ cho một hình ảnh bình thường nào.
Frenhofer filled the whole painting with lines and colors. T
Frenhofer làm đầy bức họa với những đường nét và màu sắc.
There was no white anywhere.
Không có màu trắng ở bất cứ nơi đâu.
They were surprised by his painting.
Họ bị ngạc nhiên bởi bức họa.
“They’ll love it,” he thought. But they did not.
Họ sẽ yêu thích nó, ông nghĩ. Nhưng họ đã không làm vậy.
Frenhofer was excited to show his painting, and the artists were excited to see it.
Ông hào hứng trưng ra bức tranh, và các họa sĩ cũng rất muốn xem nó.
veryone was very excited as they went up the stairs to his apartment.
Mọi người phấn khích khi đi lên các bậc thang đến căn hộ của ông.
e wanted them to judge it and compare it to other paintings.
Ông muốn họ phán xét nó và so sánh nó với các bức họa khác.
“I want your professional opinion,” he said.
Tôi muốn ý kiến chuyên gia của các bạn, ông nói.
He was very happy and invited other artists to see it.
Ông rất vui và mời các họa sĩ khác đến xem nó.
Finally, he finished the painting.
Cuối cùng, ông hoàn tất bức họa.
He worked as hard as he could.
Ông làm việc chăm chỉ nhất có thể.
But he kept working on the same painting for many years.
Nhưng ông cứ tiếp tục làm việc đối với bức tranh nhiều năm.
Soon Frenhofer became very thin.
Không lâu sau ông trở nên rất gầy.
He worked all day and all night, rarely eating.
Ông làm việc cả ngày và cả đêm, rất hiếm khi ăn.
He stayed alone in his apartment all day.
Ông ở một mình trong căn hộ cả ngày.
He tried a new method of painting.
Ông thử một phương pháp vẽ mới.
He stopped selling paintings and teaching.
Ông ngưng việc bán tranh và việc dạy.
Then his attitude changed.
Rồi thái độ của ông thay đổi.
Life was good.
Cuộc sống rất tốt.
He taught art classes.
Ông dạy các lớp hội họa.
He had delicious meals with his rich neighbors.
Ông ăn những bữa ăn ngon với các hàng xóm giàu có.
He made a big profit from his paintings.
Ông kiếm lời rất nhiều từ những bức họa.
He always used the best materials.
Ông luôn dùng những vật liệu tốt nhất.
The quality of his paintings was very high.
Chất lượng của các bức họa của ông rất cao.
Everyone loved him.
Mọi người quý mến ông.
Frenhoferwas the best artist in the world.
Frehofer là người họa sĩ tài năng nhất thế giới.
The Crazy Artist
Người họa sĩ điên
Rose and Henry were married, and they lived happily
Họ lấy nhau và sống hạnh phúc.
Standing in front of her was the man Rose had dreamt about
Đang đứng trước cô là người mà cô từng mơ về.
His horns and green hair went away.
Sừng và lông xanh biến mất.
His pig nose turned into a man’s nose.
Cái mũi heo trở thành cái mũi người.
As soon as she kissed Henry, he began to change.
Ngay khi cô hôn Henry, anh bắt đầu biến đo
She gave Henry a kiss right on his pig nose.
Cô hôn Henry ngay trên cái mũi heo của anh.
Rose was very happy.
Rose rất hạnh phúc.
Will you come with me?”
Cô đi với tôi chứ?
I can’t leave you here in the forest alone.
Ta không thể để cô ở lại đây trong rừng một mình.
“My ship will sail home soon.
Thuyền của ta sẽ giăng buồm về nhà nhanh thôi.
“Rose, I have to go home,” said Henry.
Rose, ta muốn đi về nhà.
hey had a very good day filled with nice conversations.
Họ có một ngày tuyệt vời đầy những cuộc hội thoại vui vẻ.
They collected berries, caught fish, and had lunch.
Họ thu nhặt quả mọng, bắt cá, và ăn trưa.
Rose and Henry spent the day together.
Họ dành cả ngày bên nhau.
“I am not scared. To tell you the truth, I think you are cute,” said Rose.
Tôi không sợ. Thành thật mà nói, tôi nghĩ bạn dễ thương.
The creature said, “Did I scare you? I hope not. Let me introduce myself. I am Henry.”
Sinh vật nói, "Tôi có làm cô sợ không? Tôi mong là không. Để tôi tự giới thiệu. Tôi là Henry."
He had horns on his head and a pig’s nose.
Hắn có sừng trên đầu và mũi của một con heo.
It looked like a man, but he was hairy and green.
Nó trông giống như một người đàn ông, nhưng lại lông lá và màu xanh.
She saw a strange creature on the ground.
cô thấy một sinh vật kỳ lạ trên mặt đất.
The princess woke up.
công chúa tỉnh dậy.
It was the man she would wed.
đó là người đàn ông cô sẽ lấy.
She dreamed about a man with brown hair and brown eyes.
Cô mơ về một người đàn ông có tóc nâu và mắt nâu.
The princess had a dream.
Công chúa có một giấc mơ.
Either she will be killed by animals or she will get lost in the forest,” the queen thought.
Hoặc nó sẽ bị giết bởi các con thú hoặc nó sẽ bị lạc trong rừng, hoàng hậu nghĩ.
It was a very serious thing to do.
Đây là một việc làm rất nghiêm trọng.
She left the princess there.
Bà để công chúa ở đó.
Then the queen took the princess to the forest.
Sau đó hoàng hậu mang công chúa ra khu rừng.
After the princess drank it, she fell asleep.
Sau khi công chúa uống nó, cô chìm vào giấc ngủ.
She prepared a drink for the princess.
Bà chuẩn bị một thức uống cho công chúa.
She made a decision.
Bà đưa ra một quyết định.
She was tired of competing with her daughter.
Bà mệt mỏi vì việc cạnh tranh với cô con gái.
The queen felt bad that she was not the most beautiful woman in the kingdom anymore.
Hoàng hậu cảm thấy tệ rằng bà không phải là người phụ nữ đẹp nhất vương quốc nữa.
Her mother, the queen, however, was not as beautiful as the princess.
Mẹ của cô, bà hoàng hậu, tuy nhiên, không được xinh đẹp như cô công chúa.
There was once a beautiful princess named Rose.
Có một cô công chúa xinh đẹp tên Rose.
Princess Rose and the Creature
Công chúa Rose và sinh vật
We can still see him in the night
Chúng ta vẫn có thể thấy được anh trong bầu trời đêm.
Even today,Argos’ image remains there, above the site where all his problems began.
Ngay cả ngày hôm nay, Hình ảnh của Argos ở nguyên đó, trên nơi mà mà tất cả những vấn đề của anh bắt đầu.
He wanted Argos to remain in the sky forever.
Ngài muốn Argos ở nguyên trên trời mãi mãi.
He turned Argos into a group of stars
Ngài biến Argos thành một nhóm các vì sao.
He made another plan.
Ngài có một kết hoạch khác.
Zeus saw how much trouble he had caused Argos.
Zeus thấy được bao nhiêu rắc rối ngài đã gây ra cho Argos.
Argos was very sad.
Argos rất buồn.
She put his many eyes on his tail.
Bà để những con mắt của anh lên đuôi của anh.
She turned him into a peacock.
Bà biến anh thành một con công.
Hera was very angry with Argos.
Hera rất tức giận đối với Argos.
He fell asleep. Zeus saw this, and he took the cow.
Anh chìm vào giấc ngủ. Zeus thấy điều này, và ngài lấy con bò.
Argos couldn’t focus on his job.
Argo không thể tập trung vào công việc.
The song had an immediate effect.
Bài nhạc có hiệu quả ngay lập tức.
Zeus was certain Argos would go to sleep.
Zeus tin chắc rằng Argos sẽ ngủ.
He found a great music player.
Ngài tìm thấy một người chơi nhạc tuyệt vời.
He asked the man to play a beautiful song for Argos.
Ngài yêu cầu anh ta chơi một khúc nhạc hay cho Argos.
He had a plan.
Ngài có một kết hoạch.
He wanted to take it away from Hera.
Ngài muốn lấy nó khỏi Hera.
But the god Zeus wanted the cow.
Nhưng thần Zeus muốn con bò.
The cow just ate grass all day.
Con bò cứ ăn cỏ cả ngày.
This was an easy job for Argos.
Đây là công việc dễ nhất đối với Argos.
It had to be kept separate from all the other cows and far away from people
Nó phải được giữ riêng biệt khỏi tất cả những con bò khác và xa khỏi con người.
The most essential part of his job was to keep the cow alone.
Phần chính yếu của công việc của anh là giữ con bò được một mình.
It was her favorite pet.
Nó là con thú cưng ưa thích của bà.
he cow was very important to Hera.
Con bò rất quan trọng đối với Hera.
His primary function was to guard a special cow.
Chức năng chính của anh là canh giữ một con bò đặc biệt.
He worked for Hera, a great goddess.
Anh làm việc cho Hera, thánh nữ vĩ đại.
The others stayed awake.
Những con khác vẫn tỉnh táo.
While sleeping, he only rested a few eyes at a time.
Trong khi ngủ, anh chỉ nghỉ một vài mắt một lúc.
Also, since he had so many eyes, he was very good at guarding things.
Hơn nữa, vì anh có nhiều mắt, anh rất giỏi việc canh gác các thứ.
He had a chance to see many things
Anh có cơ hội thấy nhiều thứ.
aving many eyes was usually a benefit to him.
Việc có nhiều mắt thường là một lợi ích đối với anh.
He was born with 100 eyes.
Anh được sinh ra với 100 con mắt.
But one thing about him wasn’t normal.
Nhưng một thứ về anh ta thì không được bình thường.
He worked hard and did well at his job.
Anh làm việc chăm chỉ và làm tốt việc của mình.
He was a husband and a proud father.
Anh là một người chồng và là một người cha đáng tự hào.
Argos lived in Ancient Greece.
Argo sống ở Hy Lạp cổ đại.
The First Peacock
Con công đầu tiên
starfish - an animal shaped like a star that lives in t
sao biển - một động vật có hình dáng giống ngôi sao và sống trong nước.
And then she smiled and threw the starfish as far as she could into the ocean.
Và rồi cô mỉm cười và ném con sao biển xa nhất có thể vào trong đại dương.
hen she picked up a very big starfish and said, “But I can save this one.”
Rồi cô nhặt một con sao biển rất to và nói, "Nhưng tôi có thể cứu con này."
“No, I cannot save them all,” she replied.
"Không, tôi không thể cứu tất cả chúng," cô trả lời
She stopped to look at me.
Cô ngưng và nhìn tôi.
“You cannot save all of them!” I said.
"Bạn không thể cứu tất cả chúng!" tôi nói.
“What are you doing?” I asked her.
"Bạn đang làm gì thế?" Tôi hỏi cô ấy.
She just threw as many starfish as she could.
Cô cứ ném nhiều sao biển nhất có thể.
But she did not answer me.
Nhưng cô không trả lời tôi.
hen she picked up a starfish and threw it into the water.
Sau đó cô nhặt một con sao biển và ném nó vào trong nước.
She stopped crying and stood up.
Cô ngưng khóc và đứng dậy.
Finally, the emotion was gone
Cuối cùng, cảm xúc qua đi.
She sat back against a rock and thought for a while.
Cô ngồi xuống lại, dựa vào đá và nghĩ một hồi.
The little girl started to cry.
Cô bé bắt đàu khóc.
“To be frank, I don’t think we can do anything,” I said
Thẳng thắn mà nói, tôi không nghĩ rằng chúng ta có thể làm bất cứ gì." tôi nói
She asked me if I could perhaps help her.
Cô muốn biết liệu tôi có thể giúp cô hay không.
She wanted to prevent all of them from dying.
Cô muốn ngăn không cho tất cả bọn chúng chết.
She was also sad about the starfish.
Cô bé cũng buồn về những con sao biển.
Then I saw a little girl.
Rồi tôi thấy một cô gái nhỏ.
I stepped very carefully so I did not damage them.
Tôi bước rất cẩn thận để tôi không làm hư hại chúng.
It made me sad, but I knew I could not fix the problem.
Điều đó khiến tôi buồn, nhưng tôi biết tôi không thể sửa vấn đề này.
There were many starfish on the beach that night.
Có nhiều sao biển trên bãi vào tối hôm đó.
They would die if they did not get into the water.
Chúng sẽ chết nếu chúng không vào trong nước được.
But other starfish were still on the sand.
Nhưng những con khác vẫn còn trên cát.
Some starfish went back into the water, and they were safe.
Một vài con sao biển trở vào trong nước, và chúng an toàn.
When the waves came in, many starfish* fell on the beach.
Khi các cơn sóng ập vào, nhiều những con sao biển rơi trên bãi biển.
One evening I took a pleasant walk by the ocean.
Một buổi tối tôi đi bộ gần biển cho dễ chịu.
It was a very nice time.
Đó là quãng thời gian đẹp.
I discovered pretty things and enjoyed the taste of new foods.
Tôi khám phá những thứ đẹp đẽ và tận hưởng hương vị những món ăn mới.
I learned to identify birds.
Tôi học cách xác định các con chim.
I sat and watched the waves and listened to the ocean.
Tôi ngồi và nhìn các con sóng và lắng nghe đại dương.
I had a lot of fun.
Tôi đã rất vui.
Last summer I took a trip to an island.
Mùa hè qua tôi đi du lịch đến một hòn đảo.
The Starfish
Con sao biển
hey chase each other
Họ đuổi theo nhau mãi mãi.
She became the moon, and her brother became the sun.
Cô trở thành mặt trăng, và người anh em của cô trở thành mặt trời.
When the girl’s fire went out, she hung in the sky.
Khi lửa của cô gái tắt, cô treo lơ lửng trên bầu trời.
Then they went into space.
Rồi họ đi vào trong không gian.
They became huge.
Họ trở nên khổng lồ.
As they ran, they grew.
Khi họ chạy, họ lớn lên.