36 Matching Annotations
  1. Last 7 days
    1. Sư-tử mạnh biết chừng nào, nếu bắt thỏ thì kó khó gì, thế mà kòn fải dùng hết sức

      Đáng chú ý là ngay trong cùng một câu, chữ "dùng" ở đây được viết với d trong khi câu tục ngữ trích ngay trước đó viết "zùng" với z — cùng một từ nhưng hai cách viết khác nhau. Đây là dấu vết của lối chính tả cải cách mà Nguyễn Ái Quốc chủ trương (z thay cho d/gi), và sự thiếu nhất quán này hoặc do bản in gốc, hoặc do bản gõ Wikisource (phần lớn trang chưa được hiệu đính lại theo bản scan gốc).

    1. Cái viện bảo tàng những điều ô uế, những sự khốn nạn, mà lão thần Bạch My đã gây ra cho bọn dân đóng thuế chúng ta phải gánh vác mọi phí tổn.

      VTP dựng cuộc chiến chống hoa liễu thành trận đánh thần thoại giả giữa Khoa Học và Bạch My, rải suốt cuốn sách. Giọng sử thi nhại này vừa cho cuốn phóng sự một cốt truyện để đọc như truyện, vừa ngầm chỉ ra rằng cuộc chiến "khoa học đấu hủ tục" mà nhà nước tự quảng cáo thực chất là hai hệ thống quyền lực tranh nhau cùng một đàn con nhang — những người đàn bà nghèo.

    2. Cuốn phóng sự này nên đọc như một cuốn sách khoa học hơn là cuốn sách văn chương

      Đây là nước đi then chốt của chính bài giới thiệu tái bản: Hoàng Thiếu Sơn đề nghị đọc Lục xì như một cuốn sách khoa học hơn là một cuốn sách văn chương, để vừa gỡ nó khỏi những bản án đạo đức cũ vừa không đẩy nó ra khỏi di sản văn học. Cách đóng khung lại này, viết ra sáu mươi năm sau các trận đánh 1936–38, chính là động tác dọn sạch bụi kiểm duyệt và tư thù báo giới trước khi mời độc giả đọc lại tác phẩm bằng con mắt mới.

    3. Thì ra trong làng mại dâm mà cũng có kẻ chủ trương “Nghệ thuật vị nghệ thuật”!

      Virgitti "nghiệm ra" rằng đa số phụ nữ làm đĩ chỉ vì thích, không vì đói — câu này rút hẳn yếu tố kinh tế ra khỏi bài toán, biến vấn đề cơ cấu (do chính quyền vận hành) thành vấn đề bản tính của nạn nhân. VTP đẩy logic ấy đến chỗ lố bịch bằng phép suy diễn giả vờ nghiêm túc: nếu làm việc gì đó không vì tiền mà chỉ vì yêu chính việc ấy là l'art pour l'art, thì đây là "mại dâm vị mại dâm". Mũi tên bắn trúng hai đích: viên Đốc lý, và phe "nghệ thuật vị nghệ thuật" trong cuộc tranh luận văn học 1935–36 — hai mệnh đề cùng cấu trúc, cùng phủ nhận cái nền kinh tế bên dưới hành vi, và cùng chỉ có thể thốt ra từ miệng người không bao giờ phải đói.

    1. Một người đau chân có lúc nào quên được cái chân đau của mình để nghĩ đến một cái gì khác đâu?

      Câu này giải thích vì sao "cố tìm mà hiểu" gần như bất khả: ai cũng đang đau cái chân của mình — vợ ông giáo đau cái nghèo, lão Hạc đau thằng con, và chính ông giáo đau năm quyển sách. Ghép với tuyên ngôn "cố tìm mà hiểu" ở ngay trước nó, ta có cái bẫy kép làm nên chiều sâu của truyện: sự thấu hiểu là bổn phận, nhưng nỗi khổ riêng của mỗi người luôn kéo họ về phía tàn nhẫn.

    2. nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn

      Tuyên ngôn đạo đức học của cả văn nghiệp Nam Cao. Nhưng cái sâu của truyện là: lý thuyết "cố tìm mà hiểu" được phát biểu bởi người mà toàn bộ hành trạng trong truyện chứng minh anh ta liên tục không làm được — dửng dưng ở đầu truyện, tin ngay lời thằng ăn trộm ở cuối truyện. Nam Cao không cho nhân vật nào đứng ngoài định luật của chính mình.

    1. Ấy chính tại tôi đã được nghe một ông Tây khen bà ta có cái đẹp hoàn toàn: người đàn bà đẹp nhất nước Nam!

      Chuẩn đẹp không phải một thước đo phổ quát mà luôn được nhìn qua lăng kính của người quan sát: cùng một thân hình đẫy đà mà người Việt cho là thô, người Tây trong đoạn này lại tôn là "đẹp hoàn toàn". Cấu trúc đảo chiều này soi sáng cho toàn bộ vấn đề của câu văn về Nhật Bản: chuẩn đẹp "mảnh dẻ chóng hỏng" gán cho người Nhật cũng chỉ là một lăng kính ngoại lai áp đặt lên đối tượng được nhìn, không khác gì ông Tây áp chuẩn của mình lên người đàn bà Việt ở đây.

    2. Lấy người mảnh dẻ, sinh đẻ vài chuyến thì nguy to ngay chứ gì?

      Lý lẽ "đẹp bền" của Suzanne thực chất là diễn ngôn ưu sinh châu Âu thập niên 1920–30: đề cao thân thể cường tráng có khả năng sinh sản khỏe mạnh. Trớ trêu là đúng vào giai đoạn Vũ Trọng Phụng viết (Taishō – đầu Shōwa), chính nước Nhật cũng đang ưu sinh hóa mạnh mẽ — nhà nước quân phiệt đề cao người mẹ khỏe đẻ nhiều cho đế quốc, đỉnh điểm là Luật Ưu sinh Quốc gia 1940 và khẩu hiệu "hãy đẻ, hãy sinh sôi". Tức là khi Suzanne tuyên bố Nhật ưa cái đẹp mảnh dẻ chóng hỏng, diễn ngôn nhà nước Nhật lúc đó lại đang nói điều ngược lại, gần với thuyết "đẹp bền" của chính châu Âu hơn.

    3. Còn khi ông thấy một người yêu kiều, thướt tha như liễu, rồi ông say mê... Người Tây thì lại cho thế là cái đẹp đáng sợ.

      "Thướt tha như liễu" trùng khít với chuẩn bijin (mỹ nhân) trong tranh ukiyo-e thời Edo: thân hình mảnh, dài, uyển chuyển, mà lời khen kinh điển gọi là "eo liễu" (yanagi-goshi). Đây là mô-típ thẩm mỹ chung của Đông Á chứ không riêng gì Nhật, và bijin-ga vốn là hình ảnh cách điệu hóa cực độ chứ không phải ghi chép thực tế thân thể phụ nữ. Điều thú vị là cấu trúc đối lập ở đây mang tính đối xứng: cái mà một bên tôn sùng, bên kia lại thấy đáng sợ — đúng mô hình sẽ lặp lại ở đoạn tiếp theo khi Suzanne khen một phụ nữ béo đẫy đà là "đẹp hoàn toàn".

    4. Chỉ có Đông phương, thí dụ như nước Nhật, là ưa cái đẹp mảnh dẻ chóng hỏng mà thôi.

      Câu này có một hạt nhân thật: mỹ học Nhật quả có đặt sự phù du vào trung tâm cái đẹp — mono no aware, wabi-sabi, hoa anh đào nở năm ngày rồi rụng. Nhưng đó là mỹ học của vật và khoảnh khắc, không phải của thân thể đàn bà; chuyển nó thành "người Nhật thích vợ mảnh dẻ chóng hỏng" là một bước trượt. Bước trượt ấy không đến từ Nhật Bản mà từ japonisme Pháp — công thức của Pierre Loti trong Madame Chrysanthème (1887), nơi người vợ Nhật đẹp chính vì mong manh, dùng tạm rồi bỏ khi tàu nhổ neo. Vũ Trọng Phụng không đọc Norinaga hay trà đạo Nhật; ông tiếp nhận nước Nhật đã được báo chí Pháp đóng gói sẵn, nên cái nhìn ở đây bị khúc xạ hai lần. Trớ trêu hơn, vài chục năm sau chính hàng Nhật trở thành biểu tượng toàn cầu của độ bền — lịch sử bác bỏ ngoạn mục câu văn này.

    5. dân Âu châu ham mê thể thao và đã chế tạo ra vật gì thì vật ấy phải bền

      Câu chốt “duy lý kiểu Pháp” của thuyết đẹp-bền. Sự mỉa mai được cài sẵn: người đàn bà bị ví với bộ đồ gỗ, bộ quần áo — tức hàng hóa. Khi cái đẹp đã quy thành độ bền của món hàng, thì mua hẳn một người vợ vì tiện hơn thuê đầy tớ chỉ là hệ quả logic. “Thẩm mỹ Pháp” và “thực dụng lê dương” hóa ra không mâu thuẫn: cả hai đều nhìn người đàn bà như vật sở hữu.

    6. cái đẹp mảnh dẻ là cái đẹp không bền

      Thuyết “đẹp bền” của Suzanne là tiếng vọng của diễn ngôn châu Âu 1920–30 mà Vũ Trọng Phụng hấp thụ qua sách báo Pháp: chủ nghĩa công năng, phong trào culture physique, quan niệm ưu sinh đề cao thân thể cường tráng, khỏe đẻ. Nghịch lý lịch sử: chuẩn này bị đảo ngược hoàn toàn sau 1960 — cái đẹp “mảnh dẻ, chóng hỏng” mà người Tây thập niên 30 “cho là đáng sợ” lại trở thành chính chuẩn đẹp phương Tây (Twiggy trở đi), sau khi nền tảng ưu sinh bị khai tử về đạo đức năm 1945.

    7. Tại sao phần nhiều các me Tây vẫn già, vẫn xấu, mà vẫn đắt chồng?

      Câu hỏi mở đầu đoạn then chốt (đối thoại với Suzanne) về hai quan niệm cái đẹp — cái đẹp bềncái đẹp mảnh dẻ, không bền. Đáng chú ý: câu trả lời thật cho câu hỏi này rốt cuộc chẳng liên quan gì đến thẩm mỹ (xem ghi chú ở đoạn “Những người Tây ấy là những người chán đời”).

  2. Dec 2022
  3. Aug 2022
  4. Mar 2022
  5. Nov 2021
    1. In this report, we investigated performance of the omnibus test using simulated data. The hierarchical procedure is a widely used approach for comparing multiple (more than two) groups.[1] The omnibus test is intended to preserve type I errors by eliminating unnecessary post-hoc analyses under the null of no group difference. However, our simulation study shows that the hierarchical approach is not guaranteed to work all the time. The omnibus and post-hoc tests are not always in agreement. As our goal of comparing multiple groups is to find groups that have different means, a significant omnibus test gives a false alarm, if none of the post-hoc tests are significant. But, most important, we may also miss opportunities to detect group differences, if we have a non-significant omnibus test, since some or all post-hoc tests may still be significant in this case.Although we focus on the classic ANOVA model in this report, the same considerations and conclusions also apply to more complex models for comparing multiple groups, such as longitudinal data models [2]. Since for most models, post-hoc tests with significant levels adjusted to account for multiple testing do not have exactly the same type I error as the omnibus test as in the case of ANOVA, it is more difficult to evaluate performance of the hierarchical procedure. For example, the Bonferroni correction is generally conservative.Given our findings, it seems important to always perform pairwise group comparisons, regardless of the significance status of the omnibus test and report findings based on such group comparisons.

      Post hoc not significant when omnibus test is significant.

  6. Sep 2021
    1. Đọc sách nghe tưởng chừng là việc quen thuộc và phức tạp vô cùng đối với nhiều người mà lại trở nên đơn giản đến không tưởng với cách diễn tả sâu sắc qua từng câu chuyện của tác giả Phan Thanh Dũng.

  7. Nov 2020
  8. Aug 2020
  9. Apr 2020
  10. Nov 2019
    1. The most common signature for HOCs looks like this: // React Redux's `connect` const ConnectedComment = connect(commentSelector, commentActions)(CommentList); What?! If you break it apart, it’s easier to see what’s going on. // connect is a function that returns another function const enhance = connect(commentListSelector, commentListActions); // The returned function is a HOC, which returns a component that is connected // to the Redux store const ConnectedComment = enhance(CommentList); In other words, connect is a higher-order function that returns a higher-order component!

      probably a common and useful example that is used with Redux

  11. May 2019
    1. Multiple comparisons: It is not good practice to test for significant differences among pairs of group means unless the ANOVA suggests some such differences exist. Nevertheless, I admit it is tempting to take another look at the comparison of G1 with G3 (ignoring the existence of G2 and perhaps assuming normality), but then you should use a Welch t test to account for the differences in sample variances, and you should not make claims about the result unless the P-value is as low as .01 or .02. Looking at that difference more carefully might prompt a subsequent experiment.

      Test for significance among pairs when the overall f test is not significant.

  12. Aug 2016
  13. Jul 2016
    1. vẫn thấy trường mình là đại học tốt nhất cả nước về Khoa học Máy tính cần tận dụng triệt để môi trường mình đang có. Vẫn có người, thậm chí cùng phòng mình, đi được Mỹ.

    2. PGS.TS. Nguyễn Lê Minh

      lẽ ra nên để thầy đồng hướng dẫn, ít ra đã tốt nghiệp dù là NLP chưa bao giờ nằm trong sự quan tâm, nhiều khi cần chịu đựng làm việc mình k thích lắm để được làm điều mình thích nhất sau này

  14. Jan 2016
    1. Nothing would have changed

      This is always a retrospective view. Always worry about the post hoc view that this represents. Perhaps the change was inevitable given the set of initial conditions the classroom represented at this point in time. Perhaps we need the hard rock problem that the status quo ante bellum represents. Perhaps it is just one narrative of many that are equal to more compelling.

  15. Jan 2014
    1. Adding descriptive metadata to datasets helps makes the dataset more accessible by others and into the future. Respondents were asked to indicate all metadata standards they currently use to describe their data. More than half of the respondents (56%) reported that they did not use any metadata standard and about 22% of respondents indicated they used their own lab metadata standard. This could be interpreted that over 78% of survey respondents either use no metadata or a local home grown metadata approach.

      Not surprising that roughly 80% use no or ad hoc metadata.